Quyền và nghĩa vụ nhân thân vợ chồng

Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng được hiểu là những quyền liên quan đến lợi ích tinh thần gắn liền với bản thân mỗi cá nhân trong quan hệ vợ chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho người khác. Quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng xuất phát từ những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đã được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 25 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì “ Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.”

Quyền nhân thân là một quyền dân sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ phải tôn trọng. Xuất phát từ những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đã được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể vợ, chồng có các quyền và nghĩa vụ nhân thân như:

  • Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền , nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân.
  • Vợ chồng bình có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
  • Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục; tập quán, địa giới hành chính.
  • Vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Quyền nhân thân giữa vợ và chồng được hiểu là những quyền liên quan đến lợi ích tinh thần gắn liền với bản thân mỗi cá nhân trong quan hệ vợ chồng, không có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho người khác.

  1. Căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng
    • Đăng ký kết hôn

Quyền và nghĩa vụ nhân thân của vợ chồng được xác lập là khi quan hệ hôn nhân giữa họ được nhà nước thừa nhận thông qua thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để đăng kí kết hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, hai bên nam nữ phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  • Nam nữ chung sống như vợ chồng và được pháp luật công nhận

Trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng và được pháp luật công nhận là “ hôn nhân thực tế” ( xác lập trước ngày 03/01/1987), nếu hôn nhân thực tế được xác lập trước ngày này thì hôn nhân đó có giá trị pháp lý, được pháp luật công nhân mà không cần phải đưa ra bất cứ giấy tờ gì để chứng minh, trong trường hợp này được coi là hôn nhân hợp pháp và được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ nhân thân vợ chồng như những cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn khác.

Trường hợp “ hôn nhân thực tế” ( xác lập từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001) hai người chung sống với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian này mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 ( cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc vợ còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế( Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP), do đó hai người vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp và vẫn phát sinh quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng kể từ thời điểm họ chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Nếu đến sau ngày 01/01/2003 mà họ vẫn chưa đăng ký kết hôn thì xác định quan hệ vợ chồng hợp pháp như sau:

+ Trương hợp trước ngày 01/01/2003 họ đã xin đăng ký kết hôn nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa kịp hoàn tất thủ tục để cấp đăng ký kết hôn cho họ trước ngày 01/01/2003 thì cơ quan nhà nước phải tiếp tục hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn và công nhận họ là vợ chồng  hợp pháp kể từ khi họ chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế.

+ Trường hợp trước ngày 01/01/2003 họ không làm thủ tục xin đăng ký kết hôn và sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ chỉ được công nhận từ thời điểm đăng ký.

Mọi thắc mắc xin liên hệ tới Tổng đài tư vấn miễn phí: 1900.6193 để được tư vấn – hỗ trợ hoặc đặt lịch gặp Luật sư tư vấn trực tiếp và yêu cầu cung cấp các dịch vụ khác. Chúng tôi rất mong được các câu hỏi tư vấn và ý kiến đóng góp của các bạn.

Xin chân thành cảm ơn!