Hậu quả pháp lý khi Người sử dụng lao động phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật

Người sử dụng lao động (NSDLĐ) và NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) trái pháp luật sẽ chịu những hậu quả pháp lý nhất định theo quy định của pháp luật. Trên đây là câu hỏi của bạn đọc liên quan đến  Hậu quả pháp lý khi Người sử dụng lao động phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

Câu hỏi của bạn:

Tôi ký hợp đồng lao động có thời hạn là 24 tháng với công ty A và hợp đồng được ký và có hiệu lực từ 01/01/2020 và mức lương theo hợp đồng lao động là 5.000.000 đồng. Hiện tại tôi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, tuy nhiên, ngày 01/01/2021 công ty A đã chấm dứt hợp đồng lao động với tôi và không hề báo trước. Cho tôi hỏi trong trường hợp này công ty có nghĩa vụ gì và tôi được hưởng những quyền lợi như thế nào?

Câu trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn pháp luật đến Luật Hà Sơn Bình. Chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý :

– Bộ Luật Lao động năm 2019

Nội dung tư vấn:

Chào bạn! Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 37 Bộ Luật Lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp:“3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.” Do đó, trường hợp công ty bạn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn khi bạn đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi là hành vi chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

Trường hợp 1 : Người lao động có nhu cầu tiếp tục làm việc tại công ty.

Bạn vẫn muốn tiếp tục được làm việc tại công ty. Trong trường hợp này căn cứ theo Khoản 1 Điều 41 Bộ Luật lao động năm 2019 thì công ty có nghĩa vụ sau đây:

+ Nhận bạn trở lại làm việc trong trường hợp bạn có mong muốn được quay trở lại làm việc.

+ Trả lương cho bạn trong những ngày mà bạn không được làm việc. Cụ thể là từ ngày 01/01/2021 – 31/12/2021 là những ngày mà bạn không được làm việc. Mức lương theo hợp đồng lao động của bạn là 5.000.000 đồng, vậy công ty phải trả cho bạn số tiền 60.000.000 đồng.

+ Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bạn không được làm việc( đến hết ngày 31/12/2021).

+ Trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương trong hợp đồng lao động cho bạn. Mức lương theo hợp đồng của bạn là 5.000.000 đồng nên công ty phải trả cho bạn Khoản tiền bằng ít nhất hai tháng tiền lương là 10.000.000 đồng.

+ Trường hợp này, công ty đã vi phạm quy đinh về thời hạn báo trước là ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng( ở đây là đối với hợp đồng 24 tháng mà bạn đã ký kết với công ty ) thì  công ty sẽ phải trả thêm một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Bên cạnh đó, bạn có những nghĩa vụ như sau nếu bạn vẫn muốn quay trở lại công ty để làm việc:

  • Hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động sau khi được nhận lại làm việc.
  • Nếu không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động và người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp 2: Người lao động không muốn tiếp tục làm việc.

Bạn không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại trường hợp 1 thì công ty phải trả thêm trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ Luật lao động năm 2019.

“Điều 46. Trợ cấp thôi việc

  1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
  2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
  3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
  4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Ở đây bạn đã làm việc liên tục 12 tháng cho công ty kể từ ngày 01/01/2020 đến ngày 01/01/2021 nên sẽ được hưởng mức trợ cấp là ½ tháng tiền lương ( tiền lương bình quân 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi thôi việc), tức bạn sẽ nhận được 2.500.000 đồng.

Trường hợp 3: Người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý.

Nếu bên phía công ty X không muốn nhận lại bạn vào làm việc và bạn đồng ý thì theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 Bộ Luật lao động năm 2019 thì bạn sẽ nhận được:

– Ngoài khoản tiền mà công ty phải trả cho bạn tại trường hợp 1.

– Tiền trợ cấp thôi việc tại trường hợp 2.

– Hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm, công ty bồi thườngcho bạn  ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động : 10.000.000 đồng.

Dịch vụ tư vấn pháp luật

Trên đây là toàn bộ bài tư vấn về Hậu quả pháp lý khi Người sử dụng lao động phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Qúy bạn đọc nếu có thắc mắc về vấn đề trên hoặc gặp trường hợp cụ thể cần tư vấn xin vui lòng liên hệ qua hotline 1900 6193 để được Giải quyết tranh chấp lao động hỗ trợ và Tư vấn về lao động chi tiết hơn. Xin cảm ơn./.